Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt – Kỳ 5 và 6

Lý Thường Kiệt phạt Tống, tấn công toàn biên giới, chém tướng phá đồn

Nắm thời cơ, vào tháng 11.1075 bộ binh Đại Việt tấn công chớp nhoáng trên toàn tuyến biên giới. Các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Tây Bình của Tống nằm gần biên giới lần lượt bị chiếm nhanh chóng

Để bẻ gãy cuộc xâm lược của nước Tống ngay từ trong trứng nước, triều đình Đại Việt đã quyết định hành động theo kế hoạch của Thái úy Lý Thường Kiệt mở một cuộc tấn công phủ đầu quy mô lớn vào đất Tống. Mục tiêu cụ thể của cuộc tấn công này chính là ba thành Ung Châu (thuộc Nam Ninh, Quảng Tây ngày nay), Khâm Châu, Liêm Châu (thuộc Quảng Tây ngày nay). Đó là những điểm tập kết lương thảo, khí giới, nhân lực của quân Tống dành cho cuộc xâm lược Đại Việt, cũng là những đầu mối giao thông quan trọng trên tuyến đường vận chuyển của nước Tống về phía nam. Chính Thái úy Lý Thường Kiệt là người được giao quyền tổng chỉ huy trong chiến dịch sống còn này.

Thoạt nhìn tương quan lực lượng hai nước, có lẽ nhiều người sẽ nghĩ cuộc tấn công của Lý Thường Kiệt vào đất Tống chẳng khác nào tự sát, lấy trứng chọi đá. Dân số ước tính của nước Tống thời bấy giờ khoảng 40 triệu người, quân số có tới hơn 100 vạn quân thường trực. Trong khi đó dân số Đại Việt thời này ước tính khoảng 4 triệu người, quân thường trực có chừng 7 vạn. Nhưng xét kỹ sẽ thấy, bấy giờ năm 1075 quân đội nước Tống đa phần lính tráng tinh nhuệ vẫn đóng ở biên thùy phía bắc để phòng thủ hai nước Liêu, Hạ. Số quân ở phía nam kém hơn, và cũng ít hơn. Quân số toàn lộ Quảng Tây của Tống ít hơn quân số Đại Việt.

Nước Tống rộng lớn, để tập trung được số quân đông cho các trận chiến cần phải có đủ thời gian di chuyển trên những quãng đường dài để tập họp. Kể cả thông tin liên lạc từ lộ Quảng Tây tới triều đình Tống và ngược lại cũng là cả một vấn đề lớn. Tin tức từ biên giới Tống – Việt về đến Biện Kinh nước Tống thời bấy giờ trung bình mất khoảng một tháng rưỡi. Nếu gặp phải những đội quân cơ động nhanh, dùng chiến thuật tốc chiến để diệt từng điểm một trên lãnh thổ thì quân Tống ắt sẽ gặp cảnh khốn đốn vì thông tin liên lạc chậm và không kịp điều quân cứu viện. Đó chính là chìa khóa để nước nhỏ có thể đánh thắng, thậm chí thôn tính nước lớn.

Lý Thường Kiệt làm tổng chỉ huy toàn đội quân Bắc chinh đông tới khoảng 10 vạn quân, xuất quân vào tháng 10.1075. Trong đó bộ binh gồm phần lớn là quân các châu động phía Bắc do tướng Tông Đản làm tổng chỉ huy, dưới trướng Tông Đản là các tù trưởng ở các châu động biên giới phía bắc Đại Việt. Bao gồm Lưu Kỷ tri châu Quảng Nguyên, Hoàng Kim Mãn tri châu Môn, Thân Cảnh Phúc tri Lạng Châu, Vi Thủ An tri châu Tô Mậu… Mỗi tù trưởng đều có quân bản bộ chừng vài ngàn. Khi có chiến sự, triều đình sẽ điều động họ tham chiến. Các tù trưởng đều tự cầm quân của mình, phối hợp với nhau dưới trướng một tổng chỉ huy chung. Tổng binh lực cánh bộ binh chừng 4 vạn quân, tập kết ở các châu Quảng Nguyên, châu Môn, Quang Lang, Tô Mậu phụ trách tấn công biên giới Tống từ phía Tây Nam. Quân đội các châu động đi đánh trận mang cả vợ con đi theo. Cả đoàn người vừa quân lính vừa gia đình đông đến 6 – 7 vạn người, đánh đến đâu cướp kho lương của địch làm lương ăn đến đấy.

Chủ lực là quân chính quy triều đình gồm khoảng 6 vạn quân do Lý Thường Kiệt đích thân chỉ huy đóng ở châu Vĩnh An với một đội chiến thuyền hùng hậu. Thuyền chiến dùng trong chiến dịch này là loại thuyền biển to lớn, chở theo cả tượng binh. Cánh quân này phụ trách tấn công từ phía ven biển các châu Khâm, Liêm. Quân đội Đại Việt thời Lý tuy thời bình không đông, nhưng khi có chiến tranh thì lập tức điều động được một số lượng lớn quân lính. Đó là nhờ chính sách Ngụ Binh Ư Nông nổi tiếng. Các trai tráng trong nước đều được thống kê hộ tịch gọi là các Hoàng nam. Các Hoàng nam khỏe mạnh nhất sẽ sung quân nhưng vẫn ở nhà làm ruộng và luyện tập trong thời bình, chỉ giữ lại một số quân nhất định trong đội ngũ. Số quân làm ruộng sẽ được điều động khi có chiến tranh.

Dân chúng Đại Việt thời Lý rất thượng võ, người dân đa phần tráng kiện. Khi có chiến tranh lớn đe dọa đến tồn vong của đất nước thì tất cả Hoàng nam sẽ nhập ngũ, số dân chúng còn lại cũng tổ chức thành các đội dân binh hay giúp việc hậu cần. Nhờ chính sách hộ tịch chặt chẽ và chính sách quân ngũ ưu việt, dân tộc Việt thời Lý thực sự là một dân tộc chiến binh. Thời điểm Lý Thường Kiệt tấn công phủ đầu nước Tống, cấm quân tinh nhuệ bậc nhất của Đại Việt không tham chiến mà nhận nhiệm vụ trú phòng tại kinh thành Thăng Long vì quân vương còn nhỏ. Tuy vậy đa phần quân lính trong số 6 vạn quân theo Lý Thường Kiệt bắc chinh cũng là những quân lính dày dặn trận mạc, chất lượng hơn hẳn quân Tống ở biên thùy phía nam.

Đầu tiên, cánh quân của tù trưởng Vi Thủ An từ Tô Mậu được lệnh tấn chiếm trại Cổ Vạn của Tống vào ngày 27.10.1075 mở màn cho chiến dịch. Trại này nhanh chóng bị chiếm. Đó là bước thăm dò và là mồi nhử quân Ung Châu rời thành. Quân Tống thấy quân châu động chiếm trại, đã điều quân đồn trú từ thành Ung Châu xuống các trại biên giới để phòng bị. Nhưng mặc khác vì thấy quân tấn công chỉ là quân của tù trưởng, phía Tống vẫn cho rằng đây chẳng qua là vụ đánh phá mang tính cục bộ ở biên giới. Vua Tống hạ chỉ cho quan lại biên giới không làm lớn chuyện hòng che giấu âm mưu chuẩn bị đánh chiếm nước ta.

Nắm thời cơ, vào tháng 11.1075 bộ binh Đại Việt tấn công chớp nhoáng trên toàn tuyến biên giới. Các trại Hoành Sơn, Vĩnh Bình, Thái Bình, Tây Bình của Tống nằm gần biên giới lần lượt bị chiếm nhanh chóng. Quân Tống bị thiệt hại nặng nề, hầu như không còn quân che chắn hướng Tây Nam cho thành Ung Châu. Các tướng giữ trại của Tống là Lâm Mậu Thăng, Tô Tá, Ngũ Cử, Quách Vĩnh Nghiêm đều bị giết. Tông Đản cho hội quân thẳng tiến thành Ung Châu như vào chốn không người. Cánh quân của Tông Đản vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm cứ các châu động biên thùy làm bàn đạp tấn công thành Ung Châu, vừa dẫn dụ và tiêu diệt một phần lớn sinh lực quân đồn trú từ thành Ung Châu kéo tới. Ngoài ra, cánh quân này cũng hoàn thành nhiệm vụ nghi binh, đánh lạc hướng quân Tống. Tạo điều kiện cho đại quân của Lý Thường Kiệt đánh úp từ phía Đông Nam thuận lợi.

Lý Thường Kiệt vượt Thập Vạn đại sơn, bắt sống hàng ngàn tù binh Tống

Cùng với cánh quân của Tông Đản ở phía Tây Nam, cánh quân của Lý Thường Kiệt từ Khâm Châu vượt qua Thập Vạn Đại Sơn thẳng tiến thành Ung Châu từ phía Đông Nam. Trước khi tiến quân ông hạ lệnh giết hết 8.000 tù binh vì không đủ quân trông coi số tù binh này.

 

 

Trong khi các hướng quân Tống đang dồn sự chú ý về phía cánh quân phía Tây của Tông Đản thì giữa tháng 11.1075 Lý Thường Kiệt bất ngờ xuất kích từ châu Vĩnh An, dùng binh thuyền vượt biển đổ bộ lên cảng Khâm. Ngày 20.11.1075 Quân Đại Việt nhanh chóng tràn vào thành Khâm Châu bắt quan giữ thành Khâm Châu là Trần Vĩnh Thái cùng toàn bộ thuộc hạ, thu nhiều của cải. Khi quân của Lý Thường Kiệt tấn công vào thành, Trần Vĩnh Thái vẫn chưa hay biết mà đang bày rượu uống. Thành Liêm Châu bây giờ mới phòng bị thì đã muộn, ba ngày sau Liêm Châu cũng bị hạ gọn gàng bởi lực lượng Đại Việt đông hơn gấp nhiều lần. Quan giữ thành là Lỗ Khánh Tôn cùng thuộc hạ bị giết chết. Quân Đại Việt bắt hơn 8000 tù binh tại thành Liêm Châu, ép làm khuân vác thu gom của cải đem xuống thuyền. Vậy là cánh quân của Lý Thường Kiệt chiếm trọn hai châu quan trọng của Tống là Khâm, Liêm mà chẳng thiệt hại gì lớn.

Cùng lúc với cuộc tấn công bằng đường biển, một cánh quân chính quy triều đình cũng xuất phát từ châu Vĩnh An theo đường bộ tấn chiếm các trại Như Hồng, Như Tích, Để Trạo của Tống và nhanh chóng chiếm lĩnh các trại này, các chúa trại phía Tống đều bị giết. Mọi thứ diễn ra đúng như toan tính của Thái úy Lý Thường Kiệt.

Trang phục của quân nhà Lý

Chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm diễn ra vô cùng chớp nhoáng và nhanh chóng nhưng triều đình Tống vẫn chưa có hành động gì nhiều do thông tin chậm. Trong khi quân Tống đã bị đánh tan tác ở Khâm Châu, Liêm Châu và tuyến biên giới Ung Châu trong tháng 11.1075 thì đến đầu tháng 12.1075 triều đình nhà Tống mới nhận được tin quân Đại Việt hội quân gần biên giới. Cứ thế các tin tức thất thủ Khâm Châu, Liêm Châu … về đến triều đình Tống đều phải mất khoảng thời gian một tháng sau khi sự việc diễn ra. Nhờ có những sự chậm trễ này mà quân ta có thêm phần lợi thế.

Cùng với cánh quân của Tông Đản ở phía Tây Nam, cánh quân của Lý Thường Kiệt từ Khâm Châu vượt qua Thập Vạn Đại Sơn thẳng tiến thành Ung Châu từ phía Đông Nam. Trước khi tiến quân ông hạ lệnh giết hết 8.000 tù binh vì không đủ quân trông coi số tù binh này. Đồng thời ông cho một cánh quân từ Liêm Châu tiến về phía Đông Bắc đánh chiếm Bạch Châu, Dung Châu để làm nơi trú chân đề phòng viện binh của Tống, giết chết hàng loạt quan quân giữ thành. Tuy mục tiêu chính yếu tiếp theo của cuộc tiến công là hạ thành Ung Châu nhưng với việc tiến chiếm các thành Bạch Châu, Dung Châu thì quân Đại Việt càng làm cho sự phán đoán của quân Tống thêm mù mờ.

Người Tống vừa lo sợ quân Đại Việt chiếm Ung Châu, vừa ngại Lý Thường Kiệt sẽ tiến quân về phía đông bắc để chiếm các thành trì khác thuộc lộ Quảng Đông. Điều này càng làm cho lực lượng quân Tống thêm phân tán, vua Tống không dám điều quân từ các thành trì lộ Quảng Đông xuống để đánh với quân Đại Việt mà hạ lệnh cho các thành này cố thủ. Một lần nữa quân Tống trúng kế nghi binh của Lý Thường Kiệt. Do đó, quân Đại Việt rảnh tay dốc gần như toàn lực bao vây thành Ung Châu. Nhìn chiến cuộc Ung – Khâm – Liêm sẽ thấy rằng quân Đại Việt luôn áp đảo về quân số tại điểm nóng chiến trường, trong khi đó tổng lực lượng quân Tống ở hai lộ Quảng Tây, Quảng Đông so với quân Đại Việt cũng không đến mức quá chênh lệch nhưng luôn luôn bị phân tán dẫn đến hoàn toàn bị áp đảo về quân số.

Vậy là cả hai cánh quân Đại Việt đều ra quân đại thắng, thừa thế chẻ tre thẳng tiến thành Ung Châu. Thành này thời bấy giờ nổi tiếng là cứng và chắc, thành cao hào sâu, khí giới tối tân bậc nhất. Cuộc chiến khốc liệt thật sự đang chờ đón đoàn quân Đại Việt.

Sau khi hạ các thành Khâm, Liêm, Bạch, Dung và các điểm phòng thủ tuyến biên giới, hai cánh quân của Tông Đản và Lý Thường Kiệt đã tiến quân bao vây thành Ung Châu . Lo ngại dân chúng nước Tống vì tự tôn dân tộc mà ứng nghĩa ngăn cản quân đội Đại Việt, Lý Thường Kiệt cho soạn thảo các văn bản kể tội triều đình Tống, nêu rõ danh nghĩa xuất quân của Đại Việt gọi là Phạt Tống Lộ Bố Văn rồi cho người niêm yết dọc đường tiến quân. Có nhiều bản Bố Văn khác nhau. Một trong những bản Bố văn điển hình viết :

“Trời sinh ra dân chúng, Vua hiền ắt hoà mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày những phép “thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thoả cái mưu nuôi mình béo mập.

Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xót. Những việc từ trước, thôi nói làm gì!

Nay bản chức vâng mệnh quốc vương chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!

Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi !”

Một đoạn Bố văn khác thì viết: “Có những dân Giao Chỉ làm phản rồi trốn sang Trung Quốc. Các quan lại dung nạp và giấu đi. Ta đã khiến sứ sang tố giác các việc ấy, quan coi Quế Châu không chịu trả lời. Ta lại sai sứ vượt bể sang tố cáo với Quảng Châu, quan coi Quảng Châu cũng không chịu báo. Vì vậy, quân ta tới đuổi bắt dân trốn ấy…”

Lại có đoạn Bố văn tố cáo việc triều đình Tống chuẩn bị đánh Đại Việt: “… Quan coi Quế Châu đã kiểm điểm dân các động và đã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao Chỉ…”

Những bản Bố văn truyền ra đem lại nhiều hiệu quả. Đây là đòn dân vận cao tay của Lý Thường Kiệt ngay trên lãnh thổ của nước đối địch. Việc tiến quân được thuận lợi, quân ta chỉ phải đương đầu với quân triều đình Tống mà không vấp phải sự kháng cự tự phát của dân chúng, nhất là các tuyến hậu cần được an toàn.

Hiệu quả của các bố văn được người Việt đời sau kể lại : “Dân Tống thấy lời tuyên cáo, đều vui mừng, đem trâu rượu khao quân ta. Từ đó, mỗi lúc dân Tống thấy hiệu cờ Thường Kiệt đàng xa, thì nói đó là quân của cha họ Lý người nước Nam, rồi cùng nhau bày hương án bái phục bên đường. Nhờ đó mà uy thanh quân ta lan khắp”.

Các kỳ chi tiết theo link dưới đây

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt Kỳ 1 và 2 

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 3 và 4

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 5 và 6

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 7 và 8

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 9 và 10

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 11 và 12

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 13 và 14

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 15 và 16

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 17 và 18

Quốc Huy

Nguồn : Báo một thế giới 

7