Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt – Kỳ 15 và 16

Sử Tống kể chuyện quân Tống bị làm thịt khi sang xâm phạm Đại Việt

Sử nước Tống mô tả Thân Cảnh Phúc: “Quân Tống thừa thắng chiếm châu Quang Lang (Lạng Châu), viên Tri châu là con rể nhà vua, bèn trốn vào trong đám cỏ, thấy quân Tống thì ra giết chết hoặc bắt về xẻo thịt ăn. Người ta cho là vị Thiên thần”.

 

Phò mã Thân Cảnh Phúc, biệt hiệu Phò mã áo chàm là tù trưởng động Giáp. Dòng dõi họ Thân nhiều đời hưởng tước lộc của triều đình nhà Lý, được phong làm tri châu Quang Lang. Ba đời dòng họ Thân đều là phò mã của triều Lý. Tù trưởng Thân Thừa Quý lấy công chúa con vua Lý Thái Tổ. Tù trưởng Thân Thiệu Thái con của Thân Thừa Quý lấy công chúa Bình Dương của vua Lý Thái Tông năm 1029. Tù trưởng Thân Cảnh Phúc, con trai Thân Thiệu Thái lấy công chúa Thiên Thành của vua Lý Thánh Tông năm 1066. Nhờ có mối quan hệ thông gia và họ hàng khăng khít như thế, phò mã Thân Cảnh Phúc một mực trung thành với triều đình Đại Việt. Khi quân Tống tràn sang vùng biên ải, hầu hết các tù trưởng vùng khê động phía bắc Đại Việt phải đầu hàng trước sức mạnh quân sự và sự dụ dỗ của Tống.

 

Thân Cảnh Phúc là số ít những người còn lại vẫn kiên trì chiến đấu. Thân Cảnh Phúc có trên 5.000 quân bản bộ, các đánh giá của nước Tống đều xếp Thân Cảnh Phúc, Lưu Kỷ, Tông Đản là ba nhân vật đáng gờm nhất trong số các tù trưởng khê động phía Đại Việt. Quân của Thân Cảnh Phúc đa phần là giáo binh miền sơn cước, thiện dụng cách chiến đấu nơi rừng núi, giỏi mai phục, đặt bẫy và chiến đấu ở đường hẹp. Các chiến binh này không hề thua kém quân của triều đình nhà Lý cũng như tinh tinh nước Tống về chất lượng. Họ thực sự rất thiện chiến, nhất là khi được chiến đấu trên chiến trường quen thuộc. Thân Cảnh Phúc còn được sự hỗ trợ của quân triều đình cùng đội tượng binh trong cuộc chiến giữ các cửa ải.

Đầu năm 1077, khi Thân Cảnh Phúc đặt phục binh ở ải Giáp Khẩu, bị Quách Quỳ đi đường vòng đánh bọc hậu nên buộc lòng phải lui quân. Quách Quỳ dự tính sẽ cố gắng đánh nhanh thắng nhanh, chiếm kinh đô Thăng Long và tiêu diệt quân đội triều đình sớm thì mọi đạo quân khác của Đại Việt tất sẽ phải đầu hàng hoặc là bị tiêu diệt dễ dàng. Nhưng trong thực tế, phòng tuyến Như Nguyệt quả là quá lợi hại. Quân Tống chôn chân một chỗ hàng tháng trời, hậu cần dần thiếu hụt và binh lính dần yếu sức do không hợp thủy thổ. Quân Thân Cảnh Phúc về đến động Giáp, một bộ phận quân chính quy triều đình phải rút về phía nam để hội quân cùng phòng thủ chiến tuyến Như Nguyệt. Thân Cảnh Phúc tổ chức sơ tán lực lượng vào rừng núi, chỉ còn những người già yếu ở lại thôn làng. Với quân bản bộ của mình, Thân Cảnh Phúc chia làm các toán quân nhỏ, rình rập theo dọc đường tiếp tế của quân Tống mà chờ đợi thời cơ. Khi có quân Tống hay dân phu đi riêng lẻ, lập tức bị phục binh của Thân Cảnh Phúc bắt giết.

Cách đánh này, ngày ngay chúng ta quen gọi là chiến tranh du kích, tức là loại hình chiến tranh dựa vào ẩn náu và phục kích bằng lực lượng nhỏ gọn, không có chiến tuyến rõ ràng. Tuy nhiên, để chính xác thì quân Thân Cảnh Phúc dùng gọi là kỳ binh. Về cách đánh, kỳ binh cũng giống như du kích thời hiện đại là lấy chiến thuật phục kích, ẩn náu làm căn bản. Kỳ binh cũng dùng các lực lượng nhỏ, đánh nhanh rút gọn. Điểm khác biệt căn bản giữa hai loại hình khiến ta phải phân biệt chính là kỳ binh tuy chia nhỏ nhưng vẫn có đội ngũ, có tổ chức theo kiểu quân đội thông thường. Du kích thì có thể ở lẫn trong dân vùng địch chiếm, có thể chiến đấu riêng lẻ và khi cần thiết mới tập họp thành đội ngũ. Kỳ binh của Thân Cảnh Phúc lấy núi rừng động Giáp làm căn cứ địa, hoạt động mạnh khắp vùng Lạng Châu. Vùng này nằm trên tuyến đường Thiên lý nối liền từ địa giới nước Tống thẳng tới Thăng Long.

Trang phục của quân đội Thân Cảnh Phúc

Để vận chuyển lương thực, thuốc men, vũ khí thì dân phu của Tống nhất định phải đi qua. Chiến sự kéo dài và sự quấy rối của quân Thân Cảnh Phúc khiến cho quân Tống vô cùng khốn đốn. Sử nước Tống mô tả Thân Cảnh Phúc: “Quân Tống thừa thắng chiếm châu Quang Lang (Lạng Châu), viên Tri châu là con rể nhà vua, bèn trốn vào trong đám cỏ, thấy quân Tống thì ra giết chết hoặc bắt về xẻo thịt ăn. Người ta cho là vị Thiên thần”. Quân Tống phải cắt lính từ chiến tuyến bờ bắc Như Nguyệt ngược lên vùng Lạng Châu để đối phó với Thân Cảnh Phúc, bảo vệ tuyến hậu cần. Dân phu làm nhiệm vụ vận chuyển cũng phải căng mình ra chiến đấu cùng binh sĩ Tống.

Thân Cảnh Phúc thừa thế, càng tung quân hoạt động rộng khắp tới cả vùng Bắc Giang, uy hiếp cả mặt lưng khối đại quân của Quách Quỳ. Tại đây vùng Bắc Giang, ông gặp phải những lực lượng lớn của quân Tống, dẫn đến giao tranh ác liệt. Trong một trận chiến tại Lục Ngạn (Bắc Giang), Thân Cảnh Phúc chẳng may tử trận.

Phò mã áo chàm Thân Cảnh Phúc ngã xuống, nhưng cuộc chiến đấu của ông vẫn được tiếp tục bởi các lực lượng người dân tộc thiểu số châu mục. Thành quả cuộc chiến tiêu hao mà Thân Cảnh Phúc là người khởi đầu và lãnh đạo rất lớn. 20 vạn dân phu Tống chịu không nổi cực khổ, lại bị phục giết thường xuyên sau gần hai tháng trời đã chết đến quá nửa. Số dân phu còn lại vật vờ gồng mình làm việc quá sức, phần lớn cũng bị bệnh tật, ốm yếu. Hậu quả là đại quân của Quách Quỳ đóng ở bờ bắc bến Như Nguyệt bị cạn lương thảo. Từng xuất ăn của quân Tống bị cắt bớt trầm trọng, thuốc thang chữa bệnh thiếu thốn dẫn đến sức chiến đấu suy giảm mạnh. Quân Tống lúc kéo sang có 10 vạn, lúc hội quân ở bến Như Nguyệt còn hơn 9 vạn. Sau khi giao chiến với quân giữ phòng tuyến thì quân Tống hao hụt còn lại hơn 8 vạn. Tuy quân số còn đông như thế, nhưng số quân khỏe mạnh chỉ còn hơn một nửa. Số quân Tống còn lại bị bệnh tật hoặc suy nhược, hiệu quả chiến đấu kém đi nhiều. Thậm chí có những quân lính Tống chết vì bệnh tật đói khát. Sử sách nước Tống, cũng như các lời tâu trình của tướng lĩnh Tống về nước cũng phải thừa nhận tình cảnh bi đát mà quân Tống phải chịu. Nhưng họ không dám nói thẳng nguyên do mà nói tránh, đổ hết tại “nóng nực, lam chướng”.

Đó là cách mà sử sách các triều đại Trung Hoa vẫn dùng để lý giải cho các thất bại quân sự ở nước ngoài. Thực sự thì, quân Tống lâm vào tình cảnh khốn đốn nguyên do chính là vì thiếu lương thực và thuốc men, mà thiếu lương thực thuốc men là do dân phu bị chết mòn. Dân phu Tống là những dân phía nam nước Tống, quen với thủy thổ hơn là binh lính chiến đấu nhưng lại chết nhiều một phần cũng do lao lực, nhưng phần nhiều là do bị Thân Cảnh Phúc và các đội kỳ binh đánh giết. Chiến công này của Thân Cảnh Phúc và quân dân vùng biên thùy phía bắc góp phần quan trọng vào cuộc chiến. Nhờ vào đó, Thái úy Lý Thường Kiệt có đủ điều kiện để sớm tung ra những đòn kết liễu quân Tống, trước khi liên quân Chiêm Thành và quân Khmer kịp đánh tới từ phía nam.

 

Lý Thường Kiệt siết vòng vây, hàng vạn quân Tống chôn chân chờ chết

Toàn cục trận chiến kép, quân Tống ở cả doanh trại Triệu Tiết và đại doanh của Quách Quỳ tổng số chết đến gần 5 vạn quân. Cộng với quân số đã hao hụt từ trước đó, Quách Quỳ còn trong tay không tới 4 vạn quân mà một số lớn là mệt mỏi ốm yếu.

 

 

Từ khi Quách Quỳ đem quân Tống vượt biên ải, chỉ trong vòng 10 ngày đã tiến đến bờ bắc sông Phú Lương. Vua Tống Thần Tông ban đầu nghe tin báo về trong bụng lấy làm vui mừng, đích thân lấy bản đồ mà chỉ dẫn cho các quan lại Tống triều biết về đường tiến của quân Tống. Thế nhưng niềm vui của vua Tống là quá sớm và cũng nhanh chóng bị dập tắt. Kể từ khi quân Tống bị chặn lại ở bến Như Nguyệt, ngày này qua ngày khác tin tức báo về triều Tống là quân của Quách Quỳ vẫn chôn chân tại chỗ, tiến công đều bị thất bại và chịu tổn thất. Vua Tống rất nóng lòng, sai phát thẻ bài đặc biệt cho lính đưa thư để đi qua các dịch trạm không phải dừng, hàng ngày báo quân tin liên tục về triều đình.

Quách Quỳ biết rằng thế phòng thủ ở bờ nam Như Nguyệt rất vững chắc nên sau hai lần vượt sông thất bại, y nhất quyết án binh bất động. Quách Quỳ bàn với các thuộc hạ giả cách lơ là, nhử quân Đại Việt sang đánh. Nhưng kế này đã bị Lý Thường Kiệt biết thừa. Vì thế, thay vì tung quân đánh lớn, quân Đại Việt chỉ cho thủy quân xuôi dòng sông Phú Lương đánh nhử và quấy rối quân Tống. Lúc này thì quân Tống lại phải căng sức ra để tuần ra dọc sông, đặt máy bắn đá bắn các thuyền chiến Đại Việt và bắn sang bờ nam. Quân Đại Việt thấy vậy cũng án binh bất động, giữ kỹ chiến tuyến. Chiến cuộc cứ thế kéo dài gần hai tháng trời. Lúc này thì quân Tống không cần phải giả yếu, mà đã yếu thật. Tình trạng thiếu lương thực, thuốc men, không hợp thủy thổ đã làm suy sút tinh thần và và sức chiến đấu của quân Tống rất nhiều. Nắm được thời cơ đó nên vào cuối tháng 2.1077, Lý Thường Kiệt quyết định chủ động tấn công.

 

Mở màn cuộc tấn công, 400 chiến thuyền chở 2 vạn thủy quân Đại Việt dưới trướng của Hoằng Chân, Chiêu Văn từ căn cứ Vạn Xuân được lệnh xuất kích, tấn công quân Tống từ hướng đông. Đại doanh quân Tống lúc này có khoảng hơn 5 vạn quân. Cuộc tấn công của thủy quân Vạn Xuân là đòn nghi binh, theo kế dương đông kích tây mà Lý Thường Kiệt vạch ra. Tuy vậy cuộc tấn công này không chỉ là đòn hư, mà là một đòn tấn công thực sự mạnh mẽ. Thủy quân Đại Việt đổ bộ lên chân núi Nham Biền, đẩy lui 5.000 kỵ binh địch đóng tại đây.

Sau khi chiếm được núi Nham Biền, quân đổ bộ Đại Việt từ trên núi đánh xuống thật mạnh vào đại doanh của Quách Quỳ. Lớp lớp quân đổ bộ Đại Việt đánh tràn vào khu trung tâm căn cứ của Quách Quỳ, chọc thủng mấy hàng phòng thủ ngoại vi. Quách Quỳ đều toàn bộ các tướng kỵ binh còn lại tung vào trận. Kỵ binh Tống mang sang nước ta chừng 1 vạn, thì nay còn lại 7.000 quân kỵ đều tham chiến. Những tướng giỏi nhất của Tống là Yên Đạt, Tu Kỷ, Nhâm Khởi, Thế Cự, Vương Mãn, Lý Trường, Điền Chưng… đều ra sức chiến đấu.

Một trận giao tranh đẫm máu diễn ra, hai bên đều thương vong lớn. Một phần quân Tống từ hướng bản doanh của tướng Triệu Tiết và quân các cụm trung gian nằm giữa hai khối quân của Quách Quỳ, Triệu Tiết cũng được điều động sang tiếp viện. Trước sức mạnh của kỵ binh Tống, thủy quân Đại Việt vốn có khả năng đánh bộ yếu hơn, dần yếu thế. Nhận thấy cuộc tấn công đã gây nhiều thiệt hại và xáo trộn cho địch, hoàn thành nhiệm vụ nghi binh và tiêu hao, thủy quân Đại Việt rút lui. Quân Tống dùng máy bắn đá bắn với theo thuyền, làm cho quân ta thiệt hại rất nhiều. Hàng ngàn quân Đại Việt tử trận trong cuộc tấn công này, trong đó có cả hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn. Hoằng Chân, Chiêu Văn xuất hiện trong sử sách luôn luôn sóng đôi với nhau.

Hai vị này đều là con trai của vua Lý Thái Tông, em trai của vua Lý Thánh Tông và là chú ruột của vua Lý Nhân Tông thời bấy giờ. Hai ông dù địa vị hoàng thất mà không ngại xông pha đầu trận tuyến, xả thân vì đại cuộc, đến đây thì tử trận. Đội thân binh 500 người dưới trướng Hoằng Chân cảm khái trước sự hy sinh của chủ tướng, thà chết không chịu rời thuyền, chiến đấu đến cùng. Mặc cho thuyền bị quân Tống bắn chìm, tay cầm kim bài mà chết theo chủ tướng. Thủy quân đổ bộ Đại Việt còn lại hơn 1 vạn, giong thuyền rút lui an toàn.

Đòn tấn công của thủy quân Đại Việt tuy rất mạnh nhưng chỉ là đòn nghi binh. Trong lúc bố trí lực lượng của quân Tống bị xáo trộn do cuộc tấn công của thủy quân, lợi dụng trời tối Lý Thường Kiệt tung quân đánh đòn quyết định. Toàn bộ 4 vạn quân còn lại ở phòng tuyến Như Nguyệt do đích thân Lý Thường Kiệt chỉ huy chớp thời cơ đang đêm dùng thuyền vượt sông đánh thẳng vào doanh trại của tướng Triệu Tiết. Lực lượng tại doanh trại của Triệu Tiết lúc này còn khoảng trên 3 vạn quân nhưng sức chiến đấu đã suy giảm nhiều. Quân trong doanh Triệu Tiết đã yếu, quân ở các cụm trung gian gần đó lại đã điều sang tiếp viện cho đại doanh của Quách Quỳ nên gần như cụm quân của Triệu Tiết bị cô lập.

Quân Đại Việt hừng hực khí thế, thình lình tiến công khiến cho quân tướng trong doanh của Triệu Tiết vô cùng bất ngờ, trở tay không kịp. Quân Đại Việt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Lý Thường Kiệt nhanh chóng làm chủ hoàn toàn trận địa, thả sức chém giết quân Tống. Hầu như toàn bộ quân trong doanh trại của Triệu Tiết bị tiêu diệt. Tiết cùng một số ít tàn quân chạy thục mạng về đại doanh của Quách Quỳ. Toàn cục trận chiến kép, quân Tống ở cả doanh trại Triệu Tiết và đại doanh của Quách Quỳ tổng số chết đến gần 5 vạn quân. Cộng với quân số đã hao hụt từ trước đó, Quách Quỳ còn trong tay không tới 4 vạn quân mà một số lớn là mệt mỏi ốm yếu. Về phía quân Đại Việt, trải qua giao chiến quân số ở toàn chiến tuyến Như Nguyệt vẫn còn hơn 5 vạn quân, lại hoàn toàn khỏe mạnh nhờ hậu cần đầy đủ.

Quân Đại Việt chiếm lĩnh doanh trại của Triệu Tiết, đối trận ngay tại bờ bắc Như Nguyệt với khối quân mệt mỏi của Quách Quỳ. Dưới sông thủy quân Đại Việt vẫn còn một lực lượng đáng kể dù cho mất đi hai vị hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn cùng hàng ngàn quân trong đợt tấn công vào đại doanh Quách Quỳ. Thế và lực hoàn toàn thuận lợi cho quân ta.

Lúc này, quân Đại Việt hoàn toàn có thể thừa thắng dứt điểm luôn số quân tướng còn lại của quân Tống. Nhưng rõ ràng là bấy giờ Đại Việt không chỉ phải đối phó với một kẻ thù. Từ phương nam, đầu năm 1077 liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp do đích thân vua Harivarman IV của nước Chiêm Thành trực tiếp chỉ huy cũng đã bắt đầu tấn công Đại Việt. Hiện tại, sử liệu về mặt trận phía nam quá khiêm tốn để có thể miêu tả chi tiết. Nước Chiêm Thành, Chân Lạp thời này do những hạn chế về hệ thống nhà nước, hậu cần tương đối kém so với nước Tống nên thường khó mà huy động những lực lượng viễn chinh lớn.

Quân số của liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp cộng lại ước chừng dao động từ 1 – 2 vạn quân, trong đó có 7.000 thủy quân Chiêm Thành. Liên quân Chiêm Thành – Chân Lạp đã tiến chiếm được các châu Minh Linh, Bố Chính, Lâm Bình. Binh lực Đại Việt ở đây khá mỏng nên chỉ trong thời gian ngắn đã không giữ nổi. Quân của hai nước Chiêm Thành – Chân Lạp tràn vào Nghệ An, Diễn Châu. Chiến sự tại những nơi này đã diễn ra khá gay gắt, tin tức chiến trường từ phía nam liên tục báo về triều đình nhà Lý. Quân Đại Việt tại vùng Diễn Châu, Nghệ An gồm có lộ quân (quân địa phương tại các châu, phủ) làm nòng cốt, dân quân (dân trong làng, xã sung quân), cùng với hàng ngàn tù binh Tống bị bắt trong chiến dịch phạt Tống 1076 bị ép sung quân.

Hiển nhiên với lực lượng như thế thì phía Đại Việt chỉ có thể giữ thế phòng thủ để kéo dài thời gian. Tại Chân Lạp, vua Harshavarman III lại chuẩn bị một đạo quân thứ hai gởi sang Chiêm Thành, dự tính sẽ theo đường biển tiếp viện cho liên quân đang tấn công Đại Việt. Chiến sự phía nam đòi hỏi Lý Thường Kiệt phải có một giải pháp vừa nhanh gọn với quân Tống, vừa phải bảo toàn được quân lực để bảo vệ đất nước.

Bấy giờ tuy quân Tống đã khốn quẫn, nhưng nếu bị tấn công rất có thể sẽ tử chiến đến cùng trong thế không còn đường lui. Như vậy sẽ khó tránh đổ máu lớn cho quân Đại Việt để giành phần thắng trọn vẹn. Lý Thường Kiệt hiểu rằng, Đại Việt so với Tống thời bấy giờ là một nước nhỏ hơn hàng chục lần, nếu chiến tranh liên miên ắt khó tránh được nhiều tang thương. Thêm nữa, mối đe dọa của Đại Việt không chỉ có một mình nước Tống. Chiêm Thành, Chân Lạp quốc lực cũng không đến nỗi quá thua kém Đại Việt, có thể thừa cơ đánh úp bất cứ lúc nào. Trước tình hình trên, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho sứ giả sang trại của quân Tống để “xin hòa”.

Các kỳ chi tiết theo link dưới đây

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt Kỳ 1 và 2 

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 3 và 4

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 5 và 6

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 7 và 8

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 9 và 10

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 11 và 12

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 13 và 14

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 15 và 16

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 17 và 18

Quốc Huy

Nguồn: Một thế giới

 

7