Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt – Kỳ 11 và 12

Lý Thường Kiệt dùng gián điệp, vua Tống hoang mang

Triều đình nhà Tống

Do thám Đại Việt cải trang thành nhà sư, nạn dân đi khắp nơi do la tin tức. Điều này khiến vua Tống lo ngại chiều ngược lại, Đại Việt ở thế bị uy hiếp cũng rất cần nắm rõ tin tức của quân Tống. Từ cách bố trí lực lượng, thành phần tham chiến, vũ khí, thời gian … Tất cả những thứ đó đều rất quan trọng cho việc lập kế hoạch đánh giặc cụ thể, hiệu quả. Chính vì vậy, mặt trận nội gián, phản gián được cả hai bên rất chú trọng và diễn ra khá quyết liệt ngay từ trước khi hai bên khai chiến đến xuyên suốt cuộc chiến.

Muốn hiểu thấu đáo về vấn đề sử dụng nội gián của cả hai phía, trước hết phải nắm rõ về đặc điểm dân cư thời bấy giờ. Đương thời, lãnh thổ và dân tộc không hề được phân định rạch ròi như thời hiện đại. Nước Tống ban đầu lập quốc thì lấy vùng châu thổ sông Hoàng Hà làm trung tâm, dân cư nơi đó được coi là những dân thân thuộc, là người “Hán” chính hiệu. Còn các dân phía nam sông Trường Giang vẫn chỉ là những dân “hạng hai”. Trong đó có những sắc dân Mân, Điền, Ngô … vẫn mang những hồi ức về những nhà nước độc lập xa xưa của họ, phần nào có xu hướng thoát khỏi sự cai trị của đế chế Tống để xây dựng lại nền độc lập. Đó là những cư dân vẫn đang trong quá trình đồng hóa với những người phương Bắc để tạo thành người “Hán”. Những dân này ở vùng ven biển phía đông nam nước Tống rất nhiều.

Thêm vào một điều nữa là dân vùng Lưỡng Quảng có ngoài hình khá giống với dân Việt, sinh ra khó phân biệt, dễ dàng cho nội gián người Việt trà trộn. Dân chài lưới, người đi biển buôn bán cũng được Đại Việt thu nạp để do thám trong lãnh thổ nước Tống, được dân chúng che chở tạo thành cả một mạng lưới gián điệp lợi hại. Từ đây mà những động thái mộ binh phu, chuyển lương, đóng chiến thuyền được phía Đại Việt nắm rõ. Tống Thần Tông cũng biết dân chúng các vùng này không trung thành, mối nguy hiểm từ trinh thám Đại Việt khá cao nên thường xuyên gởi các chiếu chỉ dặn dò các lộ Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến phải cẩn thận đề phòng nội gián. Những người Quảng Nam, Phúc Kiến nước Tống sang buôn bán bên Đại Việt thường được trọng dụng, ban cho quan chức nên nhiều người ở hẳn Đại Việt không về nữa.

Đến mức ở nước Tống thời bấy giờ có tin đồn vua Lý vốn là người Mân sang làm vua nên người Lưỡng Quảng, Phúc Kiến mới được ưu ái như thế. Vua Tống sai người nhà của những người ở lại Đại Việt phải khai báo và chiêu dụ trở về nhằm khai thác tin tức. Tống còn phải đối phó với những quân do thám mà ta để lại dọc đường sau khi đánh Ung Châu, Khâm Châu, Liêm Châu. Do thám Đại Việt cải trang thành nhà sư, nạn dân đi khắp nơi do la tin tức. Điều này khiến vua Tống lo ngại, hạ lệnh cho lộ Quảng Tây thôi cấp các bằng sắc cho các nhà sư (bằng sắc là một kiểu chứng nhận đối với các nhà sư đương thời).

Xa hơn một chút về phương nam, lộ Quảng Tây nơi biên thùy Tống – Việt và vùng rừng núi phía bắc Đại Việt là vùng của những sắc dân thiểu số, phần lớn là những mảng vỡ của tộc Tây Âu xa xưa. Nước Tống gọi họ là man di, nước Việt cũng bắt chước gọi chung là man. Vùng này gọi chung là vùng khê động, chịu sự cai trị trực tiếp của hàng loạt các dòng tù trưởng. Trên danh nghĩa, những sắc dân khê động này hoặc thuộc về Tống, hoặc thuộc lãnh thổ Đại Việt nhưng thực tế họ rất dễ đổi phe, bởi vì cả Tống và Việt đều không hoàn toàn đồng chủng đồng văn. Ở những trường hợp này, bên nào khéo ứng xử, chiêu dụ hơn sẽ có được sự phục vụ của họ. Chính những sắc dân này là đối tượng mà nước Tống rất tích cực tranh thủ bằng của cải, chức tước trước và trong cuộc chiến. Chỉ cần một vài người thông thuộc địa bàn dẫn đường, Tống có thể dễ dàng công phá những cửa ải hiểm trở nhất.

Tống sai những thám tử lẫn vào trong dân chúng vùng biên giới để kêu gọi dân chúng làm nội ứng cho quân Tống khi giao tranh nổ ra. Những thám tử này cũng là dân khê động vùng biên giới nhưng nằm bên lãnh thổ nước Tống. Vua Tống còn có chính sách chiêu dụ đối với những tù binh, hàng binh Đại Việt, ý đồ dùng những người này làm chỉ điểm, dẫn đường. Mạng lưới gián điệp của quân Tống chỉ phát huy một ít tác dụng ở vùng biên giới và vùng rừng núi phía bắc nước Đại Việt mà về sau trong cuộc chiến chúng ta sẽ thấy rõ. Tuy nhiên thành quả từ việc này không đáng kể so với thành tích dùng nội gián của phía Đại Việt. Nhất là, quân Tống vẫn không thể tiếp cận những tin tức về nội tình triều đình Đại Việt cùng các chính sách, dẫn đến những đoán định sai lầm như là đánh giá thấp sự đoàn kết của nội bộ triều đình Đại Việt.

Về phía quân Đại Việt, những hoạt động do thám đã đem lại những thông tin rất quan trọng để lập ra kế hoạch ứng chiến. Về việc chọn địa bàn quyết chiến, Lý Thường Kiệt đã không sử dụng lợi thế hiểm trở ở các cửa ải phía bắc để lập tuyến phòng thủ ngay tại biên giới mà chọn cách sử dụng các tuyến sông lớn ở vùng đồng bằng làm nơi ngăn cản quân thù. Đó là quyết định không đơn giản. Địa thế vùng biên ải phía bắc là vùng đất thiện hiểm, dễ thủ mà khó công, thuận lợi cho lấy ít địch nhiều. Nhất là, Đại Việt có tượng binh mạnh có thể trấn giữ cửa ải rất tốt. Nếu so về địa thế, vùng đồng bằng trung tâm không thể sánh được với vùng biên giới về thuận lợi cho phòng thủ, lại có phần thuận lợi cho kỵ binh địch.

Tuy nhiên qua phân tích kỹ càng, Lý Thường Kiệt đã chọn vùng đồng bằng làm nơi quyết chiến. Một phần của quyết định này đến từ lý lẽ tự nhiên là vùng đồng bằng gần với hậu cần của quân ta hơn, thuận lợi cho đánh lâu dài và cũng thuận lợi cho dùng thủy quân. Một phần là do Lý Thường Kiệt hiểu hiểm họa bị nội ứng chỉ điểm sẽ luôn chực chờ nếu đặt giao chiến lớn tại vùng biên giới phía bắc. Đối với việc phân chia lực lượng, nắm được rằng thủy binh Tống được thành lập vội vàng, lực lượng ô hợp nên Lý Thường Kiệt đã không giao nhiều quân cho Lý Kế Nguyên đóng giữ châu Vĩnh An. Quân số đạo thủy quân của Lý Kế Nguyên tầm khoảng dưới 2 vạn quân, nhưng đều là tinh binh được trang bị những chiến thuyền tối tân đủ sức chiến đấu ở cả vùng sông ngòi và những vùng biển khơi, có nhiệm vụ là ngăn chặn thủy quân Tống phối hợp với đạo quân chủ lực của Quách Quỳ.

Qua phân tích thông tin, Đại Việt đã đoán trước được đường tiến của thủy quân Tống. Điều này rất quan trọng, giúp thủy quân Lý Kế Nguyên bố trí lực lượng hiệu quả. Một đội thủy quân khác của Đại Việt khoảng 2 vạn quân, do chính hai hoàng thân Hoằng Chân, Chiêu Văn thống lĩnh đã được bố trí chốt giữ tại căn cứ Vạn Xuân nhằm kiểm soát sông Cầu, bên cạnh chiến tuyến Như Nguyệt, nơi mà Lý Thường Kiệt dự liệu sẽ diễn ra cuộc quyết chiến với đạo quân chủ chốt của nước Tống – đạo bộ binh 10 vạn lính và 20 vạn dân phu. Cũng dựa vào những tin tức tình báo có được, Lý Thường Kiệt hiểu rằng cuộc chiến quyết định sẽ là cuộc đối đầu giữa Tống và Việt. Hai nước Chiêm Thành, Chân Lạp tuy cam kết tham chiến nhưng chỉ giữ vai trò thứ yếu.

Nhờ những bố trí chính xác dựa trên các phân tích thông tin, thế trận chống ngoại xâm của Đại Việt trở nên vô cùng vững chắc, đủ sức đương đầu với những đạo quân hùng hậu muốn xâu xé đất nước.

Tượng binh Đại Việt đối đầu với chiến thuật ‘biển người’ của nhà Tống

Quân Đại Việt có tượng binh giúp sức đã chặn được quân Tống trong thời gian ngắn và gây nhiều thiệt hại, nhưng quân Tống dùng mưa tên bắn vào voi.

 

Mở màn chiến tranh, quân Tống đánh chiếm trại Ngọc Sơn thuộc châu Vĩnh An (Móng Cái ngày nay) để làm hậu thuẫn cho thủy quân Tống ở Khâm Châu. Ngay khi đại quân của Quách Quỳ còn ở Đàm Châu, tướng Nhâm Khởi đã dẫn quân tiên phong Tống đánh trại Ngọc Sơn từ cuối tháng 7.1076 và chiếm được trại này vào giữa tháng 8.1076. Với một tiền trạm biên thùy như trại Ngọc Sơn mà cầm cự được chừng nửa tháng đã chứng tỏ sức phản kháng của binh lính Đại Việt tại nơi này không hề nhỏ.

 

Vì vậy mà khi xuống chiếu thưởng công đầu cho Nhâm Khởi để khích lệ tinh thần quân sĩ, vua Tống phải phê vào “Công tuy không to, nhưng cũng đã lần đầu làm phấn khích sĩ tốt”.Sau trận này quân Tống dùng địa bàn trại Ngọc Sơn để kiểm soát châu Vĩnh An, làm bàn đạp chuẩn bị cho cánh thủy quân. Mặt trận chính yếu trên bộ nằm ở những hướng khác. Tháng 10.1076 đại quân của Quách Quỳ tiến đóng ở Tư Minh, Bằng Tường giáp địa giới nước ta, chia quân tấn công các cửa ải để thông đường tiến sâu vào nội địa Đại Việt.

Nước Tống muốn chiếm Đại Việt, đầu tiên họ phải đương đầu với hệ thống tiền đồn biên giới và các thế lực dân tộc thiểu số ở vùng giáp biên hai nước. Trước đây, khi quân Đại Việt đánh phủ đầu nước Tống đã tập họp được một liên quân lớn, với hầu hết các tù trưởng phía Đại Việt tham chiến. Sau khi hạ được Ung Châu, còn có những tù trưởng thuộc lãnh thổ Tống theo về với Đại Việt. Nay Tống mang đại quân xuống, dùng nhiều của cải chiêu dụ, các tù trưởng phía Tống lần lượt nhanh chóng trở về phe Tống triều. Tống cũng cho các thuyết khách tới tiếp xúc với các tù trưởng phía lãnh thổ Đại Việt, dùng nhiều lời lẽ vừa dụ dỗ vừa hăm dọa để lung lạc tinh thần các thủ lĩnh người dân tộc thiểu số. Ở phía bên lãnh thổ Đại Việt, phản ứng của các tù trưởng có khác biệt lớn. Có những trường hợp đã chiến đấu rất hăng hái chống quân xâm lược, chỉ đầu hàng khi bị bức bí không thể làm khác. Có trường hợp sắt son một lòng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng vì Đại Việt. Nhưng cũng có vài tù trưởng nhanh chóng đầu hàng, thậm chí làm phản bội chỉ điểm cho quân Tống.

Trong số các tù trưởng, trước tiên phải kể đến là tù trưởng Lưu Kỷ ở châu Quảng Nguyên (Cao Bằng). Triệu Tiết từng nói với Quách Quỳ: “Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc giữ động Giáp, đều cầm cường binh”. Địa bàn Quảng Nguyên là một trong những cửa ngõ đầu tiên để quân Tống tiến vào nước ta theo đường bộ. Chính vì vậy, Lưu Kỷ cùng đội quân của mình là những người sớm phải đối đầu với đạo bộ binh đông đảo quân Tống. Ban đầu, vua Tống còn nhận định rằng có thể dễ dàng chiêu hàng Lưu Kỷ. Bởi vì trước kia vào năm 1073, Lưu Kỷ từng nghe lời xúi dục của quan Kinh lược sứ Quảng Tây là Thẩm Khởi mà xin nội thuộc Tống nhưng bấy giờ Tống không dám nhận vì sợ sớm lộ mưu thôn tính Đại Việt. Nhưng thực tế thì trải qua một thời gian gắn bó với quân dân Đại Việt, cùng chiến đấu chung chiến tuyến Lưu Kỷ đã thay đổi hoàn toàn lập trường, trở thành một thủ lĩnh trung thành với Đại Việt.

Tháng 12.1076, đại quân Tống từ châu Tư Minh phía biên giới Tống tấn công châu Quảng Nguyên. Tướng Yên Đạt, Tu Kỷ dẫn quân nối nhau mà tiến vào địa bàn Quảng Nguyên. Lưu Kỷ cùng 5.000 quân của mình dựa vào địa thế chiến đấu ngoan cường, bao vây tiền quân của Tống, giết và bắt sống giặc tới hàng ngàn tên. Nhưng Yên Đạt dựa vào số đông, thúc trung quân liều chết tới cứu viện, Lưu Kỷ ít quân phải thả lỏng vòng vây và rút lui về căn cứ. Quân Tống tấn công không thủng nổi căn cứ Lưu Kỷ. Yên Đạt bày kế ly gián, sai bọn gián điệp trà trộn trong dân chúng phao tin rằng Lưu Kỷ đã ước hẹn sắp ra hàng quân Tống. Các thủ lĩnh nhỏ ở các động trúng kế, kéo nhau đem quân hàng Tống trước để yên thân. Lưu Kỷ bị bao vây, bất đắc dĩ cũng phải ra đầu hàng ngày 1.1.1077. Quân Tống bắt tù trưởng Lưu Kỷ cùng gia đình và các hàng tướng khác đem về Tống, 5000 quân Quảng Nguyên cũng bị bắt làm tù binh. Quân Tống vào căn cứ Quảng Nguyên cứu lại được 3000 tên bị bắt trước đó. Các động thuộc châu Quảng Nguyên và lân cận bị mất về tay quân Tống, bị ép cung ứng lương thực.

Quân Tống từ châu Quảng Nguyên tiến đánh Môn Châu, tù trưởng Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân ở vùng này đã thông đồng với Tống từ trước, nhanh chóng quy hàng và làm hướng đạo cho Tống. Quân Tống từ châu Tư Lăng tiến đánh Tô Mậu, tù trưởng Vi Thủ An cũng nghe lời dụ hàng của Tống mà hạ khí giới.

Ngày 8.1.1077 cánh quân chính của Quách Quỳ vượt ải Nam Quan tiến đánh huyện Quang Lang. Quân Tống gặp phải quân của phò mã Thân Cảnh Phúc và quân triều đình chặn đánh ở ải Quyết Lý. Tại đây, một trận ác chiến đã diễn ra. Quân Đại Việt có tượng binh giúp sức đã chặn được quân Tống trong thời gian ngắn và gây nhiều thiệt hại, nhưng quân Tống dùng mưa tên bắn vào voi và cho số đông quân cầm mã tấu chém vòi voi nên tượng binh quay đầu chạy, quân Đại Việt do phò mã Thân Cảnh Phúc chỉ huy phải rút lui về ải Giáp Khẩu (tức ải Chi Lăng) đặt sẵn mai phục chờ giặc. Ải này đặc biệt hiểm trở, trước đây các tướng phương Bắc đều phải chịu thương vong lớn tại đây.

Quách Quỳ là một tướng lão luyện, dò biết được có quân mai phục nên không dám tiến vào ải mà chấp nhận đi đường vòng khó nhọc, dựa theo sự dẫn đường của các phần tử phía Đại Việt đầu hàng. Quân Tống vượt dãy núi Bắc Sơn đến Yên Thế, là một con đường tắt lợi hại đánh vào phía sau phòng tuyến của quân Đại Việt. Tại làng Vạn Linh, kỵ binh địch đụng độ đội quân dự bị của triều đình dùng để chi viện cho ải Giáp Khẩu. Sự xuất hiện của quân Tống là một sự bất ngờ lớn với quân Đại Việt tại đây bởi đường đi mà quân Tống chọn rất hẹp và hiểm trở, phải là người thông thuộc mới có thể đi đúng được. Nhưng dù thế nào đi nữa, quân Đại Việt cũng quyết tử chiến, dựa vào thế núi cao bắn nỏ và ném đá về phía quân Tống gây thương vong lớn, lại lùa voi ra đánh giết quân Tống rất nhiều.

Tướng tiên phong Tống là Tu Kỷ phải rất khó nhọc mới qua được nhờ ưu tiên quân số, hết lớp này đến lớp khác tràn lên khiến quân Đại Việt thất thủ. Quách Quỳ theo đường vòng là nằm ngoài kế hoạch tác chiến của quân Đại Việt, toàn bộ đội quân mai phục ở ải Giáp Khẩu đứng trước nguy cơ bị đánh tập hậu và bị tiêu diệt. Lo ngại điều đó, Thân Cảnh Phúc nhân đêm tối lui quân lẫn về giữ rừng núi Động Giáp, chờ cơ hội đánh phục kích sau lưng giặc. Trong khi cánh trung quân của Quách Quỳ phải đụng trận với Thân Cảnh Phúc và một số đạo quân nhỏ thì cánh quân của Triệu Tiết theo hướng Bằng Tường (thuộc Tống) tiến vào Đại Việt, men theo Bình Giã, Vạn Nhai, Nhã Nam mà tiến và hầu như chẳng gặp phải cản trở gì. Các cánh quân Tống men theo ba ngã dọc sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam mà tiến như vũ bão, không còn đội quân nào trong vùng cản nổi bước tiến của giặc nữa.

Chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày, các cánh quân Tống đã đến sông Phú Lương hội quân, tức là gần sát Thăng Long – trái tim của Đại Việt. Để đến được nơi này, đạo quân Tống đã bỏ xác tổng cộng gần 1 vạn quân trên các tuyến biên giới. Quách Quỳ còn trong hơn 9 vạn quân kỵ bộ. Bên kia bờ sông chính là con đường rộng mở tiến vào kinh thành Đại Việt, tiến vào vùng đồng bằng trung châu màu mỡ. Từ bến Như Nguyệt đến Thăng Long chỉ cách chừng 20km. Nếu quân Tống vượt qua được sông, hầu như chắc chắn Đại Việt sẽ vong quốc.

Nhưng tại đây, quân Tống gặp phải một phòng tuyến quy mô chưa từng thấy mà Lý Thường Kiệt cùng quân dân Đại Việt đã cất công dựng lên từ nhiều tháng trước. Đó là phòng tuyến Như Nguyệt chắn ngang đường thiên lý (con đường lớn xuyên bắc nam). Trên bờ, lớp lớp chông tre và chiến lũy với hàng vạn bộ binh dàn sẵn. Dưới sông, hàng lớp chiến thuyền Đại Việt tuần tra. Lúc này thì quân Tống không còn đường nào để đi vòng né tránh nữa bởi thời bấy giờ đây là nút giao thông gần như duy nhất mà một đội quân có thể đi qua.

Quân Tống đóng trại ở bờ bắc sông Phú Lương, ngay ở đoạn bờ bắc bến Như Nguyệt. Quách Quỳ cho lập một hệ thống trạm chuyển lương dài từ biên giới Tống – Việt đến tận nơi đóng quân. Kế hoạch ban đầu của Quách Quỳ là đóng quân chờ phối hợp với cánh thủy binh Tống. Tuy nhiên chúng ta sẽ thấy rằng, thủy chiến chưa bao giờ là điều mà người Việt tỏ ra kém cỏi. Cánh quân thủy Đại Việt do tướng Lý Kế Nguyên ở mạn đông bắc lúc bấy giờ cũng đang chiến đấu chặn đường tiến của thủy quân địch. Vận mệnh Đại Việt không chỉ phụ thuộc vào cuộc chiến đấu trong nội địa, mà còn phụ thuộc vào kết quả của cuộc chiến giữ các chiến thuyền mạn biển đông bắc.

Các kỳ chi tiết theo link dưới đây

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt Kỳ 1 và 2 

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 3 và 4

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 5 và 6

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 7 và 8

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 9 và 10

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 11 và 12

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 13 và 14

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 15 và 16

Cuộc Bắc phạt thần thánh của Lý Thường Kiệt kỳ 17 và 18

Quốc Huy

Nguồn: Một thế giới 

7