Đóng

06/01/2018

CON ĐƯỜNG XANH VEN BIỂN NAM KỲ 2016… Tập 8: HÀ TIÊN – “MỘT CHỐN BIÊN THÙY MỘT CÕI THƠ…” (*)

 
 
Thị xã Hà Tiên Thị xã Hà Tiên nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, phía Đông và phía Nam giáp huyện Kiên Lương, phía tây giáp biển Tây, phía bắc giáp Campuchia.
-x-
-x-

Khai Trấn Quốc Công – Mạc Cửu – Người đặt nền móng cho Hà Tiên…
-x-

Biểu tượng theo truyền thuyết rằng: Tiên nữ thường xuất hiện trên sông Giang Thành
-x-

Khu Du Lịch Mủi Nai (Lộc Trĩ Thôn Cư)
-x-
Được khai mở vào đầu thế kỉ thứ 17, cách tỉnh lỵ Kiên Giang 93 km, Hà Tiên từ lâu đã nổi tiếng có nhiều thắng cảnh đẹp, thu hút nhiều lượt khách tham quan. Không ai nhớ chính xác tên gọi này có từ bao giờ. Chỉ biết Hà Tiên xưa kia thuộc vùng đất Mang Khảm (tục danh Trấn Phiên thành, còn gọi là Đồng Trụ trấn). Tương truyền rằng, ngày xưa vì mến cảnh trần gian nơi đây có nhiều cảnh đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường xuất hiện trên sông Giang Thành nên Mạc Cửu đặt tên là Hà Tiên.
Năm 1679, Mạc Cửu (quê quán Lôi Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) vì bất mãn với chế độ nhà Thanh, lưu lạc đến vùng đất Hà Tiên, chiêu tập lưu dân lập nên xứ Hà Tiên. Năm Hiển Tông đời thứ 7, nghe lời mưu sĩ Tô Quân cùng các thuộc hạ Trường Cầu, Lý Xá…Mạc Cửu dâng biểu cầu thân với nhà Nguyễn.
Kể từ ngày đó, Hà Tiên trở thành mảnh đất cuối cùng của đất Việt về hướng Tây Nam. Hà Tiên vào thời Mạc Cửu, là một mắt xích quan trọng ở phía đông vịnh Thái Lan, trên tuyến hàng hải thương mại châu Á qua vịnh Thái Lan, men theo bờ biển Đông Việt Nam lên Quảng Châu, Trung Quốc hay Luzon, Philippin. Thời kỳ cha con Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích (1706-1780) cai quản vùng đất này, đã áp dụng một chính sánh tự do và coi trọng thương mại. Mạc Thiên Tích mở cảng cho tàu buôn nước ngoài buôn bán tự do. Từ đó, Hà Tiên trở thành điểm đến của các đoàn thương thuyền từ bán đảo Mã Lai, Sumatra, Java, Siam, Ấn Độ, Miến Điện, Phúc Kiến, Quảng Đông, Hải Nam,…
HÀ TIÊN THẬP CẢNH
1. Đông Hồ ấn nguyệt (đầm Đông Hồ): 
Nằm phía Đông thị xã Hà Tiên, rộng 14km2, từ Hà Tiên muốn vào đầm Đông Hồ chỉ có một cách duy nhất là đi bằng tàu hay “vỏ lãi”. Càng đi vào sâu, đầm Đông Hồ như là một thế giới gần như hoàn toàn cách biệt với nét đô thị hiện đại. Bao quanh diện tích mặt nước rộng lớn là nhiều tầng dừa nước mọc dọc theo các bãi bồi ngập trong nước. Điều kiện tự nhiên này đã tạo nên một bầu không khí trong lành và yên tĩnh đến tuyệt vời.
Tương truyền rằng : cách đây 300 năm, Tổng trấn Hà Tiên Mạc Thiên Tích, thường tụ hội các thi nhân đến đầm Đông Hồ ngắm trăng và ngâm thơ vào ngày rằm. Vào ngày này trăng sáng và đẹp lung linh nên nhiều “Tao nhân, Mặc khách” đã đặt cho nơi này cái tên rất lãng mạn “Đông Hồ ấn nguyệt”.
-x-
2. Lộc Trĩ thôn cư (xóm Mũi Nai):
Xuyên qua những xóm làng thanh bình, một bên là biển khơi mênh mông, một bên là dải đồi thấp với những đồi cỏ xanh mượt cùng những mảnh ruộng nhỏ xen giữa là những hàng dừa lả ngọn. Xóm quê “ Lộc Trĩ thôn cư” dựa lưng vào vách núi, nằm dưới những ngọn dừa quanh năm hứng gió biển khơi nay trở thành điểm du lịch nổi tiếng ở đồng bằng sông Cửu Long. Với bãi biển dài hơn 1km, thoai thoải, nước khá trong so với các bãi biển của miền Tây Nam bộ nên hàng năm Mũi Nai đón hàng ngàn lượt du khách đến tắm biển, tham quan. Và dưới những vườn dừa rợp mát du khách có thể thưởng thức ẩm thực hải sản tươi sống với giá cả hợp lý.
-x-
3. Nam Phố trừng ba: (bãi Nam sóng lặn)
Từ trung tâm thị xã đi về phía biển, bãi Nam Phố hiện ra là một vùng biển trời mênh mông, tĩnh lặng. Ở đây có hai bãi tắm là bãi Hòn Heo và Bãi Ớt. Tuy ở cùng một địa điểm nhưng mỗi bãi sở hữu một đặc điểm khác nhau. Bãi Ớt bao la với cát vàng mịn, mặt nước trong xanh. Còn Hòn Heo nằm lọt trong làng chài ven biển cùng tên… Vẻ đẹp độc đáo có được của Nam Phố là do dãy núi bãi Ớt nhô hẳn ra ngoài khơi tạo thành bức bình phong khổng lồ. Do vậy, dù có vào mùa mưa bão thì biển ở Bãi Ớt vẫn hiền hòa, tĩnh lặng. Đến với Nam Phố, du khách có thể tận hưởng làn không khí dịu nhẹ với gió biển, nước biển trong veo và những con sóng nhẹ nhàng xô bờ.
-x-
4. Lư Khê ngư bạc: (rạch Vược)
“Lư khê ngư bạc” là cảnh sinh hoạt của người dân xóm chài rạch Vược. Đây là dòng nước có nhiều cá chẻm được gọi một cách thi vị là “Lư khê”, nhưng người dân thì quen gọi nó với cái tên thật bình dị là “rạch Vược”. Sau những chuyến đi biển, ghe, tàu sẽ về đây trú ngụ, nghỉ ngơi (ngư bạc). Rạch Lư Khê, xưa có hai nhánh : một nhánh đổ ra biển, một nhánh thông với đầm Đông Hồ. Nơi hợp lại của hai dòng nước tạo thành một ao rộng, nước sâu trong vắt và nhiều cá. Ngược dòng Lư Khê, hai bên là những ngọn núi nhỏ nhấp nhô cùng với những túp lều tranh lúp xúp của dân chài. Về sau, khi quốc lộ 80 được xây dựng, cửa rạch Lư Khê thông ra biển đã bị lấp, con rạch chỉ còn một nhánh trổ ra đầm Đông Hồ.
5. Tiêu Tự thần chung (chùa Tam Bảo):
Chùa Tam Bảo nằm ngay trung tâm thị xã Hà Tiên, chùa được thành lập năm 1730, do Mạc Cửu sáng lập để mẹ của ông là Thái Bà Bà tu niệm, bấy giờ gọi là Tiêu Tự. Sau khi bà mất, ông đã cho đúc một tượng phật với một chuông bằng đồng để thờ và tưởng niệm đấng từ thân. Mạc Thiên Tích đã vịnh cảnh “ Tiêu Tự Thần Chung” trong Hà Tiên thập Cảnh như để nói lên tâm tư của mình khi ở nơi dinh thự, khi nghe tiếng chuông chùa vào buổi sáng. Hiện nay, sau chùa còn ngôi mộ của Thái Bà Bà, xung quanh chùa còn lại bức tường cổ gần 300 năm, họ Mạc đã cho xây dựng để ngăn giặc.
-x-
6. Giang Thành dạ cổ (lũy Giang Thành)
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Vương quốc Campuchia chảy vào Việt Nam theo hướng Bắc Nam, rồi đổ vào đầm Đông Hồ, trước khi ra vịnh Thái Lan. Chỗ sông Giang Thành và kênh Vĩnh Tế gặp nhau gọi là ngã ba Giang Thành; và đây chính là một thắng cảnh của trấn Hà Tiên xưa. Có người cho rằng, tên Hà Tiên là do Mạc Cửu đặt khi ông đặt chân đến đây, vì mến cảnh trần gian nơi đây có nhiều cảnh đẹp, non nước hữu tình, tiên nữ thường xuất hiện trên sông Giang Thành nên gọi là Hà Tiên. Thời Mạc Thiên Tứ cai quản trấn Hà Tiên, ông đã cho xây dựng ở Giang Thành một lũy đất dài 17km, rộng khoảng 1m; chạy dài từ bờ sông đến chân núi Châu Nham, và cho đặt vài đồn canh phòng nhằm ngăn chặn giặc xâm lấn.
7. Kim Dự lan đào (núi Pháo Đài)
Kim Dự hay núi Pháo Đài là một ngọn núi nhỏ ở sát vịnh Thái Lan. Núi nằm về phía Tây Bắc bãi biển Mũi Nai. Đây là một trong 10 cảnh đẹp của đất Hà Tiên xưa, từng được Mạc Thiên Tứ ca ngợi qua bài “Kim Dự lan đào” tức đảo vàng chắn sóng. “Suy hình hài như thả ngọc phong”, ý muốn nói Kim Dự như một hòn đảo ngọc, bập bềnh trôi nổi trên biển. Chung quanh núi có khá nhiều cây phượng vĩ cổ thụ, đỏ rực như màu xác pháo khi hè về. Có một vài cây hoàng lan hoa vàng nhạt tỏa hương ngan ngát khi màn đêm buông xuống.
-x-
8. Bình San điệp thúy (núi Bình San)
Núi Bình San hay còn gọi là núi Lăng là một bức tranh phong cảnh tuyệt vời, yên bình và khoáng đạt. Núi Bình San có độ cao hơn 50m, quanh năm luôn tươi tốt một màu xanh. Dưới chân núi Bình San, ao sen hình bán nguyệt chứa nước ngọt để phục vụ sinh hoạt, được đào từ thời Mạc Thiên Tích đến nay vẫn còn được người dân Hà Tiên sử dụng. Du khách đến thăm núi Bình San, đứng ở trên cao có thể ngắm được toành cảnh Hà Tiên tươi đẹp trù phú. Mọi nét đẹp của Hà Tiên như hòn Phụ Tử, Thạch Động Thôn Vân, thắng cảnh Mũi Nai…đều được thu vào tầm ngắm một cách hoàn hảo. Đây cũng là nơi yên nghĩ của dòng họ Mạc, đứng đầu là Mạc Cửu.
-x-
9. Thạch Động thôn vân (núi Thạch Động)
Thạch động còn được gọi Thạch Động thôn vân (động đá nuốt mây), tảng đá xanh khổng lồ cao 80m nằm giữa một vùng đất rộng. Đứng lưng chừng núi, du khách có thể phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh thị xã Hà Tiên thơ mộng thu nhỏ, thấy các ngôi làng của người Campuchia dọc biên giới ẩn hiện dưới chân đồi. Chẳng biết tự bao giờ mà người dân Hà Tiên tự hào: Thạch động chính là nơi khởi nguồn của câu chuyện cổ tích “Thạch Sanh chém Chằn” thấm sâu trong ký ức tuổi thơ. Vào trong Thạch Động, thạch nhũ lâu ngày đã tạo những hình thù: “Chằn tinh”, “Cô gái tóc dài” mà dân gian quen ca tụng là Phật Bà Quan Âm…
-x-
10. Châu Nham lạc bộ (núi Đá Dựng)
Từ Thạch Động đi thêm 2km thì đến núi Đá Dựng. Đây là ngọn núi đá vôi cao 83m, đỉnh bằng phẳng, bên trong có nhiều hang động đầy thạch nhũ óng ánh trông như ngọc châu. Mạc Thiên Tích đặt tên là “Châu nham lạc lộ”, châu nham là núi như châu ngọc, lạc lộ là bãi chim cò thường đến ngủ. Núi Đá Dựng cách trung tâm thị xã Hà Tiên khoảng 6km, đến tham quan di tích lịch sử này, bạn như trở về cội nguồn dân tộc, đồng thời khám phá vẻ đẹp kỳ bí của các hang động.
-x-
TẢN MẠN VỀ CÂU CHUYỆN TÌNH NƠI PHÙ DUNG CỔ TỰ
Những người làm du lịch lão luyện, có tri thức văn hóa thường có một “tuyệt chiêu” để hấp dẫn du khách đó là “Xuy Linh Nhập Địa” tạm dịch Nôm na là “thổi hồn vào đất”.
Một ngôi nhà cũ đơn sơ của một danh nhân, thậm chí chỉ là một nơi dừng chân trên bước phong trần thiên lý của cổ nhân, một câu chuyện thực hư lẫn lộn, thường là chuyện tình diễm ảo mà trắc trở hay một sự cố mà trong một phút cao hứng thăng hoa người xưa đã lưu danh cho thiên cổ…Những câu chuyện về Schiller Hause; Goethe Hause; viên đá có khắc chữ N nơi dấu chân xưa kia Hòang đế Napoléon đã đứng duyệt hàng quân băng qua Dressden (TP. Đông Nam nước Đức) trên con đường viễn chinh nước Nga; núi Đá Bia nơi tương truyền có bài thơ của vua Lê trên con đường Nam chinh; lầu Ông Hòang (đó nơi Hàn Mạc Tử đã qua)… đã thêm hồn phách khiến các địa điểm đó trở thành như là chốn hành hương cho những người mộ điệu…
Trong rất nhiều chốn còn ẩn tàng những tâm hồn địa linh nhân kiệt ấy, Hà Tiên có một nơi mà khách đa tình không thể thờ ơ, đó là Phù Dung Cổ Tự.
Phù Dung là “tên chữ” để chỉ cho những gì mà quá thành thành trụ họai diệt chỉ trong một thời gian ngắn ngủi, phù du…Các lòai hoa thuộc họ phù dung có thể kể đến gồm: – Thủy Phù Dung, đây cũng là hương danh của hoa sen hồng (Nelumbo nucifera)… – Chi Phù Dung (Hibiscus mutabilis) đây là lòai hoa có nhiều ở vùng Hà Tiên. (Đây là lòai hoa có cùng họ với cây bông vải). Sáng sớm khi hé nở hoa có màu trắng phớt vàng, khi nắng lên hoa có màu vàng hoàng anh tinh khôi thế nhưng chỉ đến khi bóng vừa ngã ác tà thì hoa đã chuyển màu đỏ úa và rụng rơi lả tã trong gió chiều hiu hắt.
-x-
– Ngòai ra Ma Túy Phù Dung cũng được dùng như một mỹ từ dành cho họ cây anh túc (á phiện)
– Đồng Thảo Phù Dung (Common poppy) là những cây giống như cây anh túc nhưng nhỏ hơn, màu đỏ thắm, mọc hoang đầy phất phơ trong gió trên những cánh đồng Châu Âu mùa hè thu …
-x-
Phù Dung Cổ Tự và câu chuyện liên quan đến nó chắc là có liên quan đến hai lòai hoa nêu ở đầu bảng trên.
Ngày nay trong tuyến du hành đến thăm lăng Mạc Linh Công, người ta, do thuận đường (hay là thâm ý bố trí của tình quân) thường ghé thăm Phù Dung Tự trước. Nơi đây tương truyền (với đôi phần thị vị hóa) vốn là nơi tu hành và sau đó là di tích thờ tự của một bà thứ cơ của Mạc Linh Công – Mạc Thiên Tích.
Tương truyền thứ cơ Phù Cừ tên thật là Nguyễn Thị Xuân, thứ nữ của một di thần nhà Lê tên Nguyễn Đình. Khi nhà Mạc lên thay nhà Lê, ông cùng hai con lánh vào cư ngụ tại Hà Tiên. Con trai tên Nguyễn Đính, giỏi kiếm thuật, ra giúp Mạc Cửu; còn em gái, giỏi thơ văn, gá nghĩa cùng Mạc Thiên Tích, sau cuộc gặp gỡ tại tao đàn Chiêu Anh Các… (Nguồn: Wikipedia)
Như ta đã biết, tao đàn Chiêu Anh Các là nơi Mạc Tiên Tích làm nguyên sóai để chiêu nạp anh tài Nam Bắc – Trong Ngòai…với chỉ trên tiêu chí tâm tài chử nghĩa chứ không phân biệt chủng tộc, hèn sang …và anh thư Nguyễn Thị Xuân khi ấy dù văn tài trác tuyệt, nhưng phận quần thoa mà chen vào đàn của các đấng mày râu e cũng dị nên nàng (để thỏa chí thi ca) dành phải cải nam trang. Nhưng rồi từ chỗ mến tài, rồi chuyện lân hương đã đến. Uẫn lan dù phong kín nhưng với con mắt biếc của bậc phu trượng hào hoa Mạc Tướng Công thì sáu cõi còn thông thì huống gì một trang quốc sắc kề bên thư án.
Thi sĩ Đông Hồ kể: ….. Mạc Lịnh Công, vì mê sắc đẹp, yêu tài thơ, đã từ chỗ sủng ái mà ra thiên ái. Hóa cho nên, khiến bà chính thất Nguyễn phu nhân ghen giận, lập mưu hãm hại bà thứ cơ. Một hôm, nhân Mạc Lịnh Công đi duyệt binh vắng, ở nhà, Nguyễn phu nhân đem nhốt thứ cơ vào lòng một cái chậu úp, cho ngộp mà chết. Nhưng thừa ưa, vừa lúc đó, trời bỗng đổ trận mưa to. Mạc Công cũng vừa về đến, thấy trời đang mưa, mà lạ, sao chậu to không ngửa lên hứng nước mà lại để úp. Công bèn truyền lịnh giở chậu ra, thì nàng ái cơ đang thi thóp sắp đứt hơi, nhưng may mắn thay, hãy còn cứu kịp.
Nàng thứ cơ tuy thoát chết, nhưng đã trở nên chán chường sự thế, nàng xin Mạc Công cho nàng đi tu. Trước sự tình éo le đó, Mạc Công không biết làm sao khác, cũng đành chiều ý, cất một ngôi am tự cho thứ cơ tu hành. Bên am tự, cho đào ao, trồng hoa sen trắng, để kỷ niệm mối tình xưa. Cho đến khi thứ cơ mất, Công cho xây ngôi mộ kiên cố đẹp đẽ để tỏ lòng tưởng nhớ yêu thương người giai nhân đã vì Công mà oan khổ…
Nếu xem sử và nhiều phim về những chuyện tình ái cung đình (nhất là phim TQ và HQ) ta cũng biết sự khốc liệt của những trận đòn ghen trong tam cung lục viện nó khốc liệt như thế nào…Thế nhưng ở đây, Phù Dung Thứ Cơ đã chọn một cách ứng xử trọn nghĩa của người có học, đó là tự nguyện rút lui, mặc dù biết rằng mình thừa sức sai sử tình quân trong cuộc chiến tranh dành niềm sủng ái…
-x-
-x-
Để rồi trăm năm sau, tiêu diêu trong phong siêu siêu nơi Bình San Điệp Thúy, cái tình của Mạc Linh Công dành cho người ngọc chừng như vẫn còn nồng nàn như hương sen trong nước biếc, trong gió núi ngàn xanh và người nay, khi biết chuyện tình bi lệ nầy thì…ai chắc cũng bùi ngùi tiếc thương và mến phục.
(*) Lời tựa theo Mai Việt Hùng.
Du lịch, ẩm thực Liên Quan